Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2009

Ải Nam Quan (bằng chứng Việt cộng bán nuớc)

Ô NHỤC ẢI NAM QUAN!


Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị

Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam! Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn. Hãy tiếp tục nhìn những gì mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!

Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi không còn ngày phải tôn thờ hình Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm buồn. Rất buồn! Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là mãi mãi!

Bây giờ chết mẹ đảng ta,
Đám chệch tràn lan khắp nước nhà,
Chẳng thà bám đít bu theo Mỹ,
Thoát cảnh lầm than ôi xót xa.
Thêm một lần nữa, chính thực tế cho thấy, từ khi lãnh đạo CSVN đã cam kết tôn trọng "16 chữ vàng" trong quan hệ với Trung Quốc mỗi khi lãnh tụ hai nước gặp nhau "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" - đã được dân chúng trong nước sửa lại thành "láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương lai", theo "tinh thần 4 tốt": láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt...

Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là "láng giềng tốt", một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là "đồng chí tốt", một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là "bạn bè tốt", một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là "đối tác tốt"...

oo O ơo
Kẻ bán Ải Nam Quan là ai?

Kẻ bán Ải Nam Quan và bán luôn cả cơ đồ dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng chính là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Máu bán nước ăn sâu vào từng đời của bọn lãnh đạo CSVN. Để chứng minh rõ ràng những tội lỗi của bọn bán nước buôn dân này vẫn còn những hình ảnh làm tang chứng.


Hình G1. HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950


HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950. HCM là người trùm khăn đứng thứ hai bên phải hình)
Việc qua lại giữa hai Đảng CS Trung-Việt liên tục diễn ra tại cổng Nam Quan. Tháng 10 năm 1953, Chánh Vụ Viện Trung Cộng đổi tên cổng Nam Quan thành “Mục Nam Quan” (chữ “Mục” có nghĩa là: hòa thuận, hòa hợp, thân mật, thân thiết…), đồng thời cả hai chính phủ Trung-Việt thành lập Ủy Ban Cửa Khẩu Mục Nam Quan. Cùng năm, thỏa thuận theo Chánh Vụ Viện Trung Cộng, Việt Nam mở cửa tự do cho hai cửa khẩu Bình Nhi – Nam Quan. Năm 1953 đã có 276.000 lượt qua lại cổng Nam Quan giữa hai bên.


Hình G2. HCM bang giao với TC tại cổng Nam Quan trong những năm 1950


- Tháng 2 năm 1954, hai bên chính phủ Hà Nội-Bắc Kinh soạn ra “Hiệp Định Mậu Dịch Biên Giới”.
- Ngày 26.09.1954, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu CSVN xuất phát từ cổng Nam Quan tham dự hội nghị tại Nam Ninh.
- Ngày 10.11.1954, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VN là Phạm Văn Đồng đi từ cổng Nam Quan sang Bằng Tường tiếp tục đi Bắc Kinh ra mắt Chu Ân Lai.

Hình G3. Phạm Văn Đồng ra mắt Chu Ân Lai


- Ngày 26.02.1955, khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội-Trấn Nam Quan. Hồ Chí Minh đọc diễn văn chúc mừng tại cổng Nam Quan.


Hình G4. HCM và CÂL yến tiệc xa hoa tại Bắc Kinh tháng 06/1955



- Tháng 12.1958, hai huyện Ninh Minh, Long Tân kết hợp với Bằng Tường (Trấn Bằng Tường) thành lập huyện Mục Nam.
- CSVN phản ứng! Ngày 27.04 đến 02.05.1959, Trung-Việt hội nghị vấn đề biên giới tại Bằng Tường. Ngày 10.05.1959, chính phủ Trung Cộng quyết định xóa bỏ đơn vị “huyện Mục Nam”. Ninh Minh, Long Tân , Bằng Tường trở về đơn vị hành chính cũ.
- Ngày 04.09.1959, Chu Ân Lai đáp máy bay đến Bằng Tường hội đàm cùng Hồ Chí Minh vấn đề biên giới Trung-Việt.
- Năm 1960, Phạm Văn Đồng trồng cây si để làm mốc cho Km0 của Việt Nam.

Hình G5 : Cây Si do PVĐ trồng ???


Cây si do PVĐ trồng (?) nhìn từ bên phía VN. Vị trí tương ứng với khoảng cách của tường thành cổng Nam Quan cũ bên VN)


Hình G6. Cây si PVĐ nhìn từ bên cổng Hữu Nghị Quan của TC


Hình G7. Cây si PVĐ nhìn từ trên lầu thành Hữu Nghị Quan. Cụm nhà trắng là Hải Quan TC xây lại trên nền "nhà tròn". Xa thẳm bên kia là cột Km0 hiện tại.


Ngày 09.04.1961, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh “hội đàm” tại lầu 2 của cổ thành Mục Nam Quan. “Hội đàm” về nội dung gì thì cả hai bên đều không công bố. Chỉ biết rằng cuộc “hội đàm” mờ ám tại Mục Nam Quan của hai lãnh đạo cộng sản Trung-Việt được viết trong sách giáo khoa của bọn Trung Cộng là “mở ra một trang sử mới cho quan hệ Trung-Việt”.


Hình G8. Lầu 2 tại Mục Nam Quan với nguyên trạng cuộc "hội đàm" giữa CÂL và HCM


Hình G9. Bảng vàng ghi lại sự kiện



- Ngày 05.03.1965, Quốc Vụ Viện Trung Cộng và chính phủ CSVN cử hành lễ đổi tên “Mục Nam Quan” thành “Hữu Nghị Quan”. Tham dự phía bên Việt Nam có Tổng lãnh sự VN trú tại Nam Ninh và đoàn chính phủ VN đến từ Lạng Sơn.
…Và kể từ sau đó, chính phủ CSVN đã dâng trọn Ải Nam Quan cho Trung Cộng để tiếp nhận viện trợ vũ khí tiến đánh miền Nam-Việt Nam Cộng Hòa


Hình G 10 : Hữu Nghị Quan năm 1965, biểu ngữ của trung cộng và Mao trạch Đông phơi vào phần lãnh thổ VN.


Hình G11. So sánh với hình ảnh Mục Nam Quan năm 1959. Đoàn đại biểu CSTC lễ phép chụp ảnh tại cổng Nam Quan bên phía VN


Hình G12. Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan


Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi vào VN làm nhiệm vụ và Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN


Hình G13. Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN


Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!". Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)



Hình G14. Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN


Hình G15. Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN


Hình G16. Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM ký tặng hoặc do PVĐ ban thưởng


Hình G17. Năm 1968, Hồ - Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam VN


Hình G18 :


"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đã lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)


Hình G19. Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978.




- Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng trăm thước.


Hình G20. Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"


Hình G21. Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến thắng


Hình G22. Trao trả tù binh


- Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu Nghị Quan


Hình G23. Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)


Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm 1940 đã chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác!"

Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).


Hình G24 :


Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.


Hình G25. "Km0" trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!


Hình G26 :cột mốc "Km0"



"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" còn đó


Hình G27. "Km0" mất chữ Quan


"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dã man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ còn chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh TC!

Hình G28


"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!


Hình G29


"Km0" trong những ngày năm 2006. Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan TC.

Hình G30




Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan TC.

Hình G31




Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của VN!
"Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"

Hình G32


Nhìn sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách "thủ lễ" đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không còn nằm trước mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!
Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lãnh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết lịch sử quê hương!

Hình G33. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!


Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này còn "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!

Hình G34


Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam

Hình G35


Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.

Hình G36


Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng!
Còn người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa. Và tôi cũng từng bị biên phòng VN hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!


Hình G37


Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhã như ở nhà. Chụp hình ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ!


Hình G38


Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!

Hình G39


Đứng hai chân trên biên giới!

Hình G40


Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ VN!

Hình G41


Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)

Hình G42




Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước! "Tổ Quốc Tại Ngã Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

Hình G43


Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương
Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước!


Hình G44


Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn cười?
Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đã nối vào khu tự trị Quảng Tây!

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

BỌN CHÓ ÐẺ & Bè Lũ


BỌN CHÓ ÐẺ .

Nầy ông Chu Tất Tiến
Máu tôi nóng lắm rồi
Tôi không được như ông :
-Ân cần và từ tốn .

Ðối với bọn cà chớn
Bất kể con cái ai
Không cần phải nể nang
Cứ bốp thẳng mặt chúng .

Những con ranh con lộn
Ðã tanh banh tành bành
Người ngợm được bón thúc
Máu Việt gian lưu manh .

Những thằng lỏi hôi tanh
Ðược bú , mớm "chém vè"
Nhử mồi từ du sinh
"Con,cháu" lão Hồ dê .

Phủi công ơn sinh , dưỡng
Ẩm bế vượt đại dương .
Phủi lòng người độ lượng
Cứu vớt và cưu mang .

Ở đất nước Hoa-kỳ
Thừa mứa đâm trửng mỡ .
Thử về ở Việt -nam
Hết ham liếm đít chó .

Cái lưỡi trước khi nói
Nên uốn lưỡi bảy lần
Ðừng bắt chước lẹo lưỡi
Láu táu mà hư thân .

Cây nào không gốc rễ ?
Nước nào không cội nguồn ?
Người phải có lương tri
Ðừng lấc cấc , láo xược .

Người không có liêm sỉ :
- Không phải là con người .
Ðã không phải là người :
-Vậy đúng là chó đẻ .

Bọn chó đẻ hai chân :
- Quái thai của thời đại ./-


Lê Văn Kỳ
Hawaii 2009
.

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Một phóng sự quá buồn ... quá xót xa ...

Chẳng có lời lẽ nào để có thể biện hộ và thông cảm cho họ -những con người đã lợi dung những sinh linh kia để kiếm ăn .. uất phát khóc mất



Khi Sân Khấu Trống Đồng (q.3, Tp.hcm) Lên Đèn, Một Đường Dây Chăn Dắt Trẻ Ăn Xin Bắt Đầu Triển Khai Hoạt Động Có Tổ Chức Hẳn Hoi. Ngoài Những Đứa Trẻ Ăn Xin Dưới Sự Chỉ Đạo Của Những Kẻ Chăn Dắt Chuyên Nghiệp, Còn Có Những Em Bé Chừng 2-3 Tuổi Bị Ép Buộc Nằm Trần Truồng Lê Lết Trên Đất




Khi một em bé ngọ nguậy, lững chững rời khỏi hiện trường “làm ăn”, ngay lập tức bị một thiếu niên áp sát lôi về, bắt diễn tiếp

Thỉnh thoảng, một em khác lớn hơn được cử tới đánh bôm bốp cho những đứa trẻ này khóc thét lên để tăng phần thương cảm cho người đi đường, người xem ca nhạc. TP.HCM những ngày này mưa gió lạnh lẽo, những em bé tội nghiệp ấy vẫn phải “hành nghề” vật vã trên tấm bìa giấy sũng nước...



Một em gái (gọi là C.) bị nhóm người lớn chăn dắt cử “chăm sóc” mấy em nhỏ với nhiệm vụ: ép những em nhỏ nằm xuống, đánh cho khóc thét lên và kiểm tra tiền khách cho dưới sự quan sát của những kẻ chăn dắt

Xem tấm ảnh này mà bật khóc .. nhìn đứa trẻ nằm trần truồng ..lạnh lẽo ...





Nhóm chăn dắt trẻ chia chác tiền kiếm được từ thân xác trẻ thơ ngay trên vỉa hè khu vực “làm ăn”

Những kẻ chăn dắt này gồm hai phụ nữ (gọi nhau là H., P.) và một số thanh niên ngồi thảnh thơi gần đó nhưng không rời mắt những em nhỏ trong vở diễn mà họ dựng nên.

Ai sẽ ngăn chặn, dẹp bỏ vở diễn phi nhân tính này?

Chăn dắt người già

Không chỉ trẻ thơ bị chăn dắt, ở TP.HCM nhiều cụ ông, cụ bà ốm yếu, bệnh tật cũng bị những nhóm người bất lương chăn dắt đi ăn xin, bán vé số... Những kẻ chăn dắt này lợi dụng tuổi “xế chiều” già yếu của các cụ cùng sự thương hại của người đi đường mà trục lợi.



Một cụ già thuộc đường dây ông C. (Thanh Hóa) nhận tiền bố thí của người qua đường trên cầu Ông Lớn (đại lộ Nguyễn Văn Linh, Q.7). Khi chúng tôi hỏi chuyện, cụ hoảng sợ dùng nón che mặt


Sau khi bán vé số ở quán nhậu trên đường Điện Biên Phủ đoạn quận 3, một bà cụ run rẩy đưa tiền cho người đàn ông đẩy xe để đi bán tiếp. Người đàn ông này thuộc đường dây ông C.. (Phú Yên) trên đường Nguyễn Đình Chiểu (quận 3)


Xe đẩy một cụ bà bán vé số qua nơi những kẻ chăn dắt tranh thủ ăn nhậu (bìa phải), chờ các cụ bán xong thu tiền


Hai người đàn ông ngồi vắt vẻo phía ngoài một quán nhậu ở quận 3 chờ các cụ bán xong để thu tiền

Hơn 25 cụ già độ tuổi 63-82 (hầu hết quê ở Tuy An, Phú Yên) tại một tụ điểm trong con hẻm đường Phạm Văn Hai (P.5, Q.Tân Bình). Mỗi ngày các cụ ngồi xe lăn rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm bán vé số từ 17g đến 1g-2g sáng mới trở về nhà. Đây là đường dây do ông chủ tên H. (Phú Yên) chăn đắt. Trong ảnh: các cụ ngồi chờ chủ phát vé số để đi bán


...Và bữa cơm cực kỳ đạm bạc của những người già bán vé số

Hình ảnh hàng chục ông cụ, bà cụ 70-80 tuổi lụ khụ ngồi lọt thỏm trong những chiếc xe lăn, trên tay là những xấp vé số, đằng sau họ là những người khỏe mạnh đẩy xe hoặc hình ảnh các cụ ngồi co ro, run rẩy bên lề đường ăn xin xuất hiện ở nhiều tuyến đường, cây cầu trên địa bàn TP.HCM... Mấy ngày qua, Sài Gòn trở lạnh, các cụ vẫn phải lê lết thân già dưới sương đêm, trong những đợt gió rét lạnh trên đường...

PV Tuổi Trẻ đã lần theo ba đường dây chăn dắt người già tại Sài Gòn. Đường dây chăn dắt người già đi ăn xin do tên C. (quê ở Quảng Lưu, Quảng Xương, Thanh Hóa) cầm đầu. Cứ khoảng 20g, C. lại chở các cụ ông, cụ bà trên 70 tuổi tới các cây cầu Ông Lớn, Ông Bé... trên đại lộ Nguyễn Văn Linh (Q.7) để “hành nghề” ăn xin.


Suốt quá trình các cụ ngồi co ro xin tiền trên cầu, C. luôn di chuyển một cách bí mật để giám sát. Cứ khoảng vài giờ, C. lại chở các cụ thay đổi địa điểm từ cây cầu này qua cây cầu khác.... Đến khoảng 0g, C. đảo xe một vòng đón các cụ về phòng trọ tại khu trọ gần sân bóng đá Kim Sơn (ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh).

Tương tự, đường dây chăn dắt người già yếu đi bán vé số do một người đàn ông cũng tên C., quê ở Phú Yên tổ chức.. C. thường về Phú Yên gom các cụ già yếu tại địa phương có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn vào TP.HCM dẫn đi bán vé số. C. thuê một dãy phòng trọ trên đường Nguyễn Đình Chiểu (Q.3) làm nơi trú ngụ và điều phối hoạt động của các cụ già.

Một cụ ông trong nhóm cho biết: “Tụi tui già yếu rồi không làm được gì ở quê nữa, anh C. dẫn vào đây bán vé số. Cứ bán xong phải giao tiền ngay và vé số thừa cho chủ. Mỗi tháng chủ trả khoảng 1 triệu đồng”.

Nước mắt tuổi xế chiều

Đằng sau hình ảnh những cụ già gầy yếu ngồi co ro ăn xin bên lề đường hoặc ngồi lọt thỏm trong chiếc xe đẩy, lê lết khắp hang cùng ngõ hẻm bán vé số... là một hệ thống chân rết của những kẻ chăn dắt ăn bám người già.


Lưng còng sát đất nhưng đêm đêm các cụ phải bán vé số đến khuya mới được về nghỉ ngơi - Ảnh: Đ.D.

20g.. Đây là lúc “ông chủ” tên C. (quê Thanh Hóa) “áp giải” các ông lão, bà lão “cái bang” từ một khu nhà trọ ở ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, TP.HCM ra các ngả đường “hành nghề” ăn xin. Tập trung chủ yếu ở đường Nguyễn Văn Linh, Q.7, TP.HCM.


Vắt kiệt tuổi già


Từ thời gian này đến quá nửa đêm, nhiệm vụ của những cụ ông, cụ bà 70-80 tuổi là phải ngồi trên đường để xin tiền. Rất nhiều người đi đường thấy những hình ảnh thương tâm này đã bỏ tiền vào chiếc nón trên những đôi tay gầy gò, run rẩy của các cụ. Không ai có thể ngờ phía sau các cụ, từ trong một góc tối gần đó, C. ngồi trên xe rung đùi quan sát và nhẩm tính số tiền sẽ thu được.
Đến khoảng 22g, C. bắt đầu xuất hiện, vòng xe một lượt rồi chở một số cụ “hoán đổi” địa điểm ngồi xin tiền. 24g đêm, C. vòng xe chạy ngược chiều đại lộ Nguyễn Văn Linh dồn các cụ lên xe gắn máy chở về phòng trọ.


“Đại bản doanh” của đường dây cái bang người cao tuổi này là căn nhà trọ xập xệ mà các cụ chen chúc nhau ngả lưng mỗi đêm. Số tiền xin được của người đi đường, các cụ đều phải nộp cho C. để đổi lấy những bữa ăn qua ngày. “Cơ sở” cái bang này tồn tại đã lâu, thỉnh thoảng C. lại về Thanh Hóa “tuyển” thêm các cụ có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn để đưa vào TP.HCM.


Đã quá nửa đêm, cụ bà trên 70 tuổi này vẫn ngồi co ro giữa gió lạnh, sương đêm để ăn xin, phía sau cụ già là những người chăn dắt vẫn dõi theo (ảnh chụp lúc 22g ngày 19-11) - Ảnh: Đ.T.

Giọt mồ hôi cuối đời

”Đổ oan cho tôi tiếng xấu”
“Ông chủ” H. khoe: “Những cụ già ở đây với tôi đều là những người bị gạt ra rìa vì đã mất sức lao động. Tôi tập hợp các cụ lại, đại diện thuê phòng, tiền vốn mua vé số từ đại lý phát cho các cụ hằng ngày đi bán là do tôi mượn từ ngân hàng đấy!? Tôi vất vả lo cho các cụ cơm ăn hai bữa, đồng vốn, chốn ở... Thế mà nhiều người lại đổ oan cho tôi tiếng xấu là lười biếng lao động, ăn bám vào người già. Tôi từng bị đánh no đòn bởi những người mua vé số phát hiện tôi đứng từ xa chờ các cụ ra để tiếp tục đẩy đi chỗ khác bán...”.


Tụ điểm chăn dắt người già của “ông chủ” N.N.H., quê Phú Yên, ở đường Phạm Văn Hai, phường 5, Q.Tân Bình. Đường dây này đã tồn tại hơn hai năm nay với hàng chục ông cụ, bà cụ già yếu chuyên đi bán vé số phục vụ “ông chủ”.


Sau nhiều lần thay đổi địa điểm, hiện H. đưa các cụ tới một căn nhà trọ nằm sâu trong con hẻm trên đường Phạm Văn Hai. Nơi đây, gần 30 cụ già ốm yếu từ 60-80 tuổi cùng nhiều người khỏe mạnh đẩy xe cho các cụ chen chúc nhau ở trong một gian nhà trọ chật hẹp. Những tháng cao điểm “làm ăn” tại đây có gần 60 cụ.


Phương thức hoạt động của đường dây này là một số người khỏe mạnh đẩy xe cho các cụ già đi bán vé số. “Ông chủ” và những người này ăn chia nhau số tiền lời thu được từ việc bán vé số của các cụ già.


Cụ bà Đ.T.Y., 72 tuổi, vừa ngồi bóp chân vừa đếm lại xấp vé số để bắt đầu một ngày rong ruổi khắp hang cùng ngõ hẻm, kể: “Mỗi ngày tui đi bán từ 5g chiều đến 1-2g sáng thì về. Cách ăn chia với chủ là nếu bán được 100 vé số loại 10.000 đồng/vé, tiền lời là 100.000 đồng thì chủ lấy 30.000 đồng, tui còn 70.000 đồng. Trừ chi phí cho người đẩy xe, tiền lời còn lại sau một ngày rong ruổi khoảng 20.000-30.000 đồng”.

Ở Phú Yên, cụ Đ.T.Y. cũng có con cháu nhưng: “Thấy tụi nó nghèo khó quá tui ngồi không không đành. Nghe trong xóm có nhiều người theo chú H. vào Sài Gòn bán vé số cũng kiếm được đồng một đồng hai sống qua ngày, tui cũng xin theo. Tui tính đợt này nghỉ vì không đi nổi nữa nhưng nhà cửa của con cháu ngoài quê tan tành theo bão lũ nên tôi nuốt nước mắt đi bán tiếp để tự nuôi thân” - cụ Y. vuốt những giọt nước mắt trên hai gò má già nua, tâm sự.


Nỗi ảm ảnh lớn nhất của các cụ già tại đây là những tên lưu manh giật vé số. Hầu như ngày nào cũng có cụ bị trường hợp này. Mặc dù có “ăn chia” và mấy vòng giám sát của “ông chủ” cùng người đẩy xe nhưng khi mất vé số thì chỉ có các cụ phải chịu bồi thường. Sau những lần bị giật vé, số nợ của các cụ với H.. lại tăng. Thậm chí theo chính lời của H., có những cụ già đến chết vẫn còn mắc nợ tiền vé số của anh ta.


“Ở cái tuổi 70-80 của tụi tui chắc cũng không sống được bao lâu nữa. Chắc những giọt mồ hôi, nước mắt này là những giọt mồ hôi, nước mắt cuối đời. Tụi tui biết mình bị ăn chặn đầu này đầu kia nhưng cũng đành vì ít ra mình cũng còn lại chút đỉnh đủ để nuôi thân” - một bà cụ nghẹn ngào.

Chân dung những “ông chủ”


Trên 25 cụ già trong đường dây của N..N.H. ngồi chờ ”chủ” phát vé số để đi bán - Ảnh: Đ.D.


Theo tìm hiểu của chúng tôi, trên địa bàn TP.HCM hiện có hàng chục đường dây chuyên chăn dắt người già đi ăn xin và mua bán vé số dạng này. Có đường dây 5-10 cụ nhưng cũng có nơi tập trung đến 40-50 cụ. Mỗi đường dây đều do một “ông chủ” quản lý.. Các “ông chủ” như H., C., M., T..... hầu hết ở lứa tuổi 30-40, có người xuất thân cũng từ dân bán vé số dạo hoặc người từng sống lang thang khắp nơi, cũng có người từng là “phụ tá”, giúp việc cho các “ông chủ” khác rồi sau đó ra “hành nghề” riêng.


Chiêu thức chung của các “ông chủ” này thường là lợi dụng những người già neo đơn, cuộc sống khó khăn là dân đồng hương của họ ở các vùng Phú Yên, Tuy Hòa, Quảng Ngãi, Thanh Hóa... cả tin vào người cùng quê để chiêu dụ vào Sài Gòn bán vé số, ăn xin sẽ được bao ăn ở và cho một số tiền phòng thân, gửi về cho con cháu ở nhà.


Sau đó, những cụ già này sẽ được gom về tập trung ở những căn phòng trọ và ứng vốn cho đi bán vé số, tiền lãi sẽ nộp lại cho “ông chủ”, tỉ lệ ăn chia tùy theo “chủ” quyết định. Khắc nghiệt hơn, những cụ già trong các đường dây ăn xin thường được “tuyển” từ người già cô độc, có hoàn cảnh khó khăn nhất mà nếu không phục vụ cho “ông chủ” thì sẽ không có khoản thu nhập nào để sinh sống. Những người già này phải nộp hoàn toàn tiền ăn xin cho “chủ” chỉ để đổi bữa ăn qua ngày.
Mỗi năm, các “ông chủ” thường về quê 2-3 lần để “tuyển” người già vào đường dây chăn dắt của mình. Cá biệt như M. ở Tân Bình, C. ở quận 5... còn đưa cả cha mẹ ruột của mình đi ăn xin. Để đề phòng các cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý, nhiều đường dây còn đề nghị các cụ ông, cụ bà làm tờ cam kết, giấy xác nhận “tự nguyện” đi ăn xin, bán vé số cho các nhóm.

Mẹ Nấm: - NHÂN QUYỀN - LIỆU CÓ LÀ GIẤC MƠ??

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN
(1948)
LỜI MỞ ĐẦU



Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,

Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,

Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,

Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,

Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,

Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,

Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
Vì vậy,
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.

Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.

Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.

Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ

Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.

Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.

Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.

Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.

Điều 11:

1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.

2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.

Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 13: 1) Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.

2) Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.

Điều 14: 1) Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.

2) Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 15: 1) Ai cũng có quyền có quốc tịch.

2) Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16: 1) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.

2) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.

3) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17: 1) Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.

2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Điều 20: 1) Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.

2) Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.

Điều 21: 1) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.

2) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

3) Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

Điều 23: 1) Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.

2) Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.

3) Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.

4) Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

Điều 25: 1) Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.

2) Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26: 1) Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.

2) Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.

3) Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.

Điều 27: 1) Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.

2) Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.

Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29: 1) Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.

2) Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.

3) Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.

PHỤ ĐÍNH 1: CÁC ĐIỀU KHOẢN NHÂN QUYỀN TRONG HIẾN CHƯƠNG LIÊN HIỆP QUỐC (1945)
Điều 1
Những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc là:

1. Duy trì hòa bình và an ninh thế giới. 2. Phát triển tương quan hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, cùng thi hành mọi biện pháp thích nghi để củng cố hòa bình thế giới. 3. Đạt tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Điều 55
Nhằm mục đích đạt được những điều kiện về ổn định và phúc lợi cần thiết cho việc thiết lập những tương quan hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia đặt căn bản trên sự bình đẳng quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, Liên Hiệp Quốc đề xướng thực thi:

a. Một mức sống cao hơn, sự toàn dụng nhân công và tạo những điều kiện tiến bộ và phát triển về kinh tế xã hội b. Tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề kinh tế xã hội và văn hóa, thực thi sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục, và c. Tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Điều 56
Các Quốc Gia Hội Viên cam kết, bằng những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực hiện những mục tiêu ghi trong điều 55 nói trên.

theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền, với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền

------------ --------- --------------------------------------------------------------------------


Còn nhớ lần đầu tiên được đọc trọn vẹn bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền là vào khoảng 1999, thời mà Internet dial-up còn chạy rì rì, và mình thì mỗi tuần để dành tiền lóc cóc ra bưu điện tỉnh để xài cho 1-2 tiếng. Mình đã từng tin "nhân quyền" là cái mình sở hữu, cho đến khi mình đọc
được trọn vẹn bản tuyên ngôn trên. Mình đã từng tin là không có khoảng cách, hay không có sự khác biệt nào về "nhân quyền" ở đất nước mình đang sống và những nước khác. Mình đã từng tin rằng "nhân quyền" - "quyền của con người" - ước mơ lớn nhất của cả nhân loại, là chuẩn mực chung cho cả thế giới chứ không phải của riêng bất kỳ một quốc gia hay dân tộc nào. Mình đã từng tin như thế, cho đến ngày mình chứng kiến nhiều người bị bắt, bị tạm giữ, bị làm khó dễ vì "lợi dụng các quyền tự do dân chủ".

Đau đớn nhưng có thật, những gì đã xảy ra với những người đi trước, những tấm lòng, những ý chí muốn thay đổi đất nước, muốn trả lại hào khí Diên Hồng cho dân Việt kiêu hùng, muốn con em mình được ngẩng mặt với thế giới, đã buộc mình phải thừa nhận trong xót xa rằng : quyền của con người ở nơi mình đang sống không được tôn trọng một cách triệt để. Làm thế nào để xã hội phát triển một cách toàn diện khi nhân tố quan trọng nhất là con người lại không được chú tâm??

"Nhân quyền" hình như chỉ là mỹ từ trên các văn bản ký kết, và được xem như một thứ trang sức để đánh bóng trên bàn hội nghị. Nói cách này hay cách khác, thì nhân quyền cũng giống như quả bóng được chuyền giữa chân nhiều người có trách nhiệm với đất nước hòng đạt được mục đích hoặc thỏa mãn được yêu cầu trước mỗi sự kiện lớn. Mình nhớ có nhiều người đã từng than vãn: "Mạng con người sao mà rẻ rúng?" . Làm sao không rẻ rúng được, khi chính mỗi người không ý thức
được quyền căn bản của mình? Làm sao không rẻ rúng được khi chính mình tự xem nhân quyền là giấc mơ xa xỉ?? Dường như nhiều người quên rằng, một khi có mặt trên quả đất này, mọi người đều mặc nhiên có những quyền căn bản - và những quyền đó là đương nhiên phải có chứ không phải là một ân huệ của ai khác ban cho.

Ngày mai, ngày khiến mình luôn liên tưởng lời một người không ngừng nghỉ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, ông Elie Wiesel, người đoạt giải Nobel Hoà bình năm 1986 :

« Tôi thề sẽ không bao giờ im tiếng, nếu ở đâu và khi nào con người còn bị đau khổ, hành hạ, đọa đày. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ áp bức. Do đó chúng ta phải can thiệp. Khi đời sống con người bị đe dọa, phẩm giá con người bị chà đạp, các biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa. Nơi nào con người bị hành hạ vì lý do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở thành trung tâm của vũ trụ. Nếu chỉ còn một tù
nhân lương tâm bị giam giữ, quyền tự do của chính chúng ta cũng bị đe dọa. Các nạn nhân này chỉ đòi hỏi một điều là họ biết rằng họ không bị cô đơn, không bị quên lãng ; rằng họ không còn quyền được nói, và chúng ta nói thay họ. Nếu tự do của họ tùy thuộc vào chúng ta, thì ngược lại, tự do của chúng ta cũng tùy thuộc vào số phận của họ."

Ngày mai - ngày Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, xin được gửi lời cảm ơn và cầu chúc bình an đến tất cả những người đang nỗ lực và phấn đấu vì một thế giới nhân quyền thực sự.

«Dù chỉ còn mình tôi, tôi vẫn tiếp tục đấu tranh cho nhân quyền của tôi và cho dân tộc tôi» - một lời chúc sức khỏe và bình an tặng riêng cho người bạn nữ đồng tuổi với tôi - Lê Thị Công Nhân.
Một lời cầu nguyện bình an và vững vàng cho những người đang trong chốn lao tù vì những nỗ lực của mình.

9/12/2009
mN

HAI NĂM TRÒN.

Chớp mắt mà đã hai năm, ngày 9/12/2007 - 9/12/2009, kỷ niệm ngày học sinh - sinh viên Việt Nam tại Sài Gòn và Hà Nội xuống đường vì Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu.

Tôi - đã qua thời sinh viên tràn đầy sức sống đó, nhưng cái cảm giác sục sôi đợi tin, xem hình các bạn biểu tình vào năm 2007 vẫn còn mãi trong lòng.

Có bài học giáo dục lòng yêu nước nào sâu sắc và chân thành và dễ dàng đi vào lòng chúng tôi - những nam, nữ thanh niên tuổi 30 - hơn những ngày đó?

Không hẹn mà gặp, tuổi trẻ đầy nhiệt huyết là như thế. Yêu nước là bản năng của người Việt, và các bạn học sinh - sinh viên trong cuộc biểu tình vì Hoàng Sa - Trường Sa ngày 9/12/2007 đã nhắc nhở tôi luôn nhớ về điều này.

Vậy là đã 2 năm qua đi, nhiều người trong số những bạn trẻ xuống đường đã bị buộc thôi học, nhiều ngã đường tương lai đã bị chặn, bởi vì các bạn đã nói, đã làm, đã bày tỏ tình yêu thiêng liêng đối với đất nước mình. Hẳn là đau đớn và xót xa khi đến tận bây giờ nhiều người vẫn trăn trở hoài với câu hỏi: "Tại sao lại như vậy?" "Sao mình lại bị đối xử như vậy?".

Chính sự né tránh và vòng vo trong những câu trả lời tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên năm 2007 của những người có trách nhiệm đã khiến tôi và những người trẻ như tôi phải tìm kiếm thông tin và chọn một con đường để bày tỏ tình yêu đất nước "ôn hòa" nhất.

Tôi sẽ còn nhớ mãi cái cảm giác ấm áp và đầy tự hào khi khoác lên mình chiếc áo có dòng chữ "Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam" ngay túi trái. Tôi còn nhớ lòng mình đã vững tin biết bao khi nhìn thấy hình ảnh một bà mẹ già Việt Nam tay cầm biểu ngữ vì Hoàng Sa trong gió, hình ảnh những em bé theo cha mẹ xuống đường vì Trường Sa.

Tôi đã từng tin - bày tỏ lòng yêu nước là quyền và trách nhiệm của tôi.

Tôi đã từng tin - hẳn có người sẽ biết suy nghĩ lại và cảm thấy có lỗi với anh Điếu Cày - blogger đầu tiên bị bắt giữ vì dám công khai bày tỏ quan điểm về chủ quyền biển đảo.

Tôi đã từng tin như thế.

Hai năm sau "ngày vì Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu" (xin được đặt tên cho ngày 9/12 hàng năm là thế), nhiều hội thảo, nhiều cuộc thi tìm hiểu về chủ quyền biển đảo đã được tổ chức. Nhưng mấy ai thực sự quan tâm đến ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với người tham gia?? Tại sao phải "giáo dục lòng yêu nước" bằng những cuộc thi, những phong trào rầm rộ khiến học sinh mỏi mệt vì phải sao chép đáp án, giáo viên rã rời vì phải chạy theo phong trào?? Tình yêu đất nước không thể nào sinh hoa kết trái từ mảnh đất cằn khô như thế.

Hai năm sau "ngày vì Hoàng Sa - Trường Sa thân yêu", tôi đau đớn nhủ thầm với chính mình rằng: "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà hãy hỏi ta có quyền làm gì cho Tổ quốc hôm nay?"

8/12/2/2009
Mẹ Nấm